Bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường di sản thiên nhiên

Từ rừng tràm, đất ngập nước đến rạn san hô, thảm cỏ biển, An Giang triển khai nhiều giải pháp gìn giữ sinh cảnh và phục hồi đa dạng sinh học.

Sinh cảnh đa dạng, áp lực gia tăng

An Giang sở hữu nhiều sinh cảnh đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ, từ rừng tràm, đồng cỏ ngập nước, vùng đất ngập theo mùa đến rạn san hô, thảm cỏ biển và núi đá vôi ven biển. Sông Tiền, sông Hậu cùng hệ thống kênh rạch, vùng biển, đảo tạo nơi cư trú, sinh sản và phát triển cho nhiều loài động vật, thực vật, chim di cư và thủy sản. Sự đa dạng ấy vừa là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, vừa đặt ra yêu cầu quản lý trên địa bàn rộng, với các hệ sinh thái khác nhau.

Vườn quốc gia U Minh Thượng với đặc trưng rừng tràm, đầm lầy và đồng cỏ ngập nước theo mùa, có tính đa dạng sinh học rất cao. Ảnh: Trung Chánh.

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, trên địa bàn tỉnh hiện ghi nhận có 295 loài động, thực vật nguy cấp, quý, hiếm và đặc hữu. Trong đó, 27 loài thuộc nhóm động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, 201 loài thuộc nhóm nguy cấp, quý, hiếm có giá trị đặc biệt, 45 loài bị đe dọa và 22 loài đặc hữu. Những con số này cho thấy giá trị đa dạng sinh học của địa phương, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu duy trì sinh cảnh và giám sát quần thể các loài.

Tỉnh An Giang hiện có 7 khu bảo tồn đã được thành lập. Mạng lưới gồm những khu vực có đặc trưng khác nhau: Vườn quốc gia Phú Quốc với rừng lá rộng thường xanh, rừng tràm và rừng ngập mặn. Vườn quốc gia U Minh Thượng với rừng tràm, đầm lầy và đồng cỏ ngập nước theo mùa. Khu bảo tồn loài – sinh cảnh Phú Mỹ gắn với vùng đất ngập nước nhiễm phèn, giàu hữu cơ và thảm cỏ bàng. Rừng tràm Trà Sư, Tân Tuyến và Khu bảo vệ cảnh quan Hòn Chông cũng góp phần duy trì các sinh cảnh rừng, đất ngập nước và núi đá vôi ven biển.

Ở vùng biển, Khu bảo tồn biển Phú Quốc có diện tích khoảng 40.909ha, bảo vệ các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển và những sinh cảnh biển quan trọng. Vườn quốc gia Phú Quốc rộng khoảng 29.596ha, có vai trò bảo tồn hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, rừng ngập mặn và khu vực biển ven đảo. Khu bảo vệ cảnh quan Hòn Chông, rộng gần 965ha, lưu giữ cảnh quan sinh thái núi đá vôi ven biển. Các khu vực này vừa có ý nghĩa bảo tồn, vừa gắn với hoạt động nghiên cứu, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái.

Cá thể rái cá được cứu hộ tại Trung tâm Giáo dục môi trường và cứu hộ động vật hoang dã, Vườn quốc gia U Minh Thượng trước khi thả về tự nhiên. Ảnh: Trung Chánh.

Tuy nhiên, nhiều sức ép đang tác động trực tiếp đến sinh cảnh. Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng khu dân cư và hạ tầng có thể làm thu hẹp hoặc chia cắt diện tích rừng tự nhiên. Tình trạng xâm lấn đất rừng, phá rừng, săn bắt, nuôi nhốt và buôn bán động vật hoang dã trái phép tiếp tục đòi hỏi sự giám sát thường xuyên. Tại Hòn Chông, hoạt động sản xuất xi-măng được xác định là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng đến quần thể voọc bạc Đông Dương.

Thời gian qua, các lực lượng chức năng đã phát hiện nhiều vụ vi phạm liên quan đến săn bắt động vật, khai thác gỗ và thủy sản trái phép, tàng trữ, kinh doanh động vật hoang dã. Với khu vực biển, hoạt động khai thác tài nguyên, du lịch và phát triển hạ tầng cũng tạo áp lực lên các hệ sinh thái nhạy cảm. Quản lý hiệu quả vì vậy cần kết hợp bảo vệ sinh cảnh, kiểm tra thực địa và sự tham gia của cộng đồng địa phương.

Phục hồi sinh cảnh, mở rộng bảo tồn

Cùng với công tác quản lý, tỉnh An Giang triển khai các hoạt động phục hồi và theo dõi đa dạng sinh học. Đến nay, đã có trên 931ha hệ sinh thái rừng tự nhiên được phục hồi tại các khu bảo tồn. Ở U Minh Thượng, các hoạt động gồm trồng phục hồi rừng đặc dụng trên đất bùn bị cháy, suy thoái, trồng và chăm sóc rừng phòng hộ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên. Tại Trà Sư, phục hồi rừng tràm và trồng bổ sung cây bản địa ở những diện tích rừng suy thoái. Ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc, hoạt động phục hồi rạn san hô được thực hiện với 1.200 tập đoàn san hô.

Pano giới thiệu về tính đa dạng sinh học của khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang được đặt tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng. Ảnh: Trung Chánh.

Công tác giám sát cũng cung cấp thêm dữ liệu phục vụ quản lý. Khu bảo tồn biển Phú Quốc tổ chức quan trắc đa dạng sinh học tại 17 điểm, gồm 10 điểm san hô và 7 điểm cỏ biển. Tại U Minh Thượng, báo cáo đa dạng sinh học được cập nhật thêm các loài thực vật, động vật quý hiếm, một số loài như tê tê Java, rái cá và mèo cá được đưa vào hoạt động giám sát. Quần thể voọc bạc Đông Dương ở Hòn Chông được theo dõi, với số lượng ước khoảng 50 cá thể.

Một số kết quả đến từ phối hợp giữa cơ quan quản lý, lực lượng chức năng và tổ chức hỗ trợ bảo tồn. Ba dự án tại Vườn quốc gia U Minh Thượng và Trà Sư được triển khai cùng WWF-Việt Nam, với tổng kinh phí gần 20 tỷ đồng. Ở Khu bảo tồn biển, lực lượng quản lý vận động người dân, cơ sở giao nộp hai tiêu bản rùa biển và thả bốn cá thể rùa biển về tự nhiên. Những hoạt động này cho thấy bảo tồn cần cả giải pháp kỹ thuật, thực thi pháp luật và sự hợp tác của cộng đồng sống gần rừng, biển.

Định hướng đến năm 2030, An Giang dự kiến thành lập thêm ba khu bảo tồn biển Thổ Chu, Nam Du – Hòn Sơn và Hải Tặc, cùng Khu bảo tồn thiên nhiên Đầm Đông Hồ. Riêng ba khu bảo tồn biển dự kiến có tổng diện tích 33.820ha, khi được thành lập, cùng Khu bảo tồn biển Phú Quốc, tổng diện tích bốn khu bảo tồn biển trên địa bàn tỉnh An Giang đạt 74.730ha. Đây là phần đóng góp của tỉnh An Giang vào mục tiêu quốc gia nâng diện tích khu bảo tồn biển, ven biển lên 6% diện tích tự nhiên vùng biển Việt Nam vào năm 2030.

Thời gian qua, An Giang thực hiện nhiều biện pháp giám sát, bảo vệ, cứu hộ các loài thực vật, động vật quý hiếm, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Ảnh: Trung Chánh.

Để các kế hoạch trở thành kết quả thực chất, tỉnh An Giang phải giải quyết những hạn chế về nhân lực, kinh phí, trang thiết bị và dữ liệu điều tra. Khu bảo tồn biển Phú Quốc có diện tích lớn, tiếp giáp khu dân cư, làng chài; hoạt động tuần tra, quan trắc, đánh dấu ranh giới và kiểm soát vi phạm cần được đầu tư đồng bộ. Việc hoàn thiện hồ sơ các khu bảo tồn mới cũng đòi hỏi khảo sát, xác định rõ ranh giới, diện tích và đối tượng ưu tiên bảo vệ.

Cơ chế thu phí tham quan cũng được thiết lập, tạo cơ sở để bổ sung nguồn lực cho quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị khu vực. Khi công tác bảo tồn được gắn với sinh kế, du lịch sinh thái có trách nhiệm và sự tham gia của người dân, các giá trị thiên nhiên sẽ có thêm điều kiện được gìn giữ lâu dài.

Theo Nông Nghiệp Môi Trường

Chia sẻ:
WordPress Image Lightbox Plugin