Quy định khắt khe từ thị trường EU đối với bao bì cùng những thay đổi trong dự thảo Luật BVMT sửa đổi đang đặt ngành nhựa Việt Nam trước những ngã rẽ lớn.
Theo ông Hoàng Đức Vượng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), Chủ tịch Chi hội Nhựa tái chế Việt Nam, nếu không nhanh chóng tháo gỡ các nút thắt về cơ chế và hạ tầng, hàng hóa xuất khẩu có thể đối mặt nguy cơ đứt gãy, trong khi chính sách Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) trong nước dễ rơi vào cảnh hình thức.

Thách thức chuẩn hóa hệ sinh thái tái chế
Quy định về Bao bì và Bao bì thải bỏ (PPWR – Quy định (EU) 2025/40) của Liên minh châu Âu đang đặt ra một mốc thời gian gấp rút đối với toàn bộ các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.
Kể từ ngày 1/1/2030, hàng hoá được đưa ra thị trường EU bắt buộc phải có bao bì đáp ứng tỷ lệ hàm lượng nhựa tái chế tối thiểu lên tới 35%. Đáng chú ý, các quy định tại Điều 7 của PPWR yêu cầu việc tuân thủ không dừng lại ở con số tự công bố, mà doanh nghiệp sản xuất hoặc nhập khẩu phải chứng minh rõ ràng trong hồ sơ kỹ thuật về tính tương đương của chất thải thu gom, chất lượng vật liệu tái chế và trình độ công nghệ của các cơ sở tái chế đặt tại nước thứ ba.
Nhận định về áp lực này, ông Hoàng Đức Vượng cho rằng, đây là thách thức rất lớn, tác động trực tiếp và tức thì tới kim ngạch xuất khẩu của các ngành hàng chủ lực sử dụng bao bì nhựa. Nếu cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp không có phương án chuẩn bị sớm ngay từ bây giờ, nguy cơ hàng hóa Việt Nam bị ách tắc tại các cửa khẩu EU từ năm 2030 là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Yêu cầu của EU thực chất đòi hỏi toàn bộ hệ sinh thái tái chế trong nước phải được chuẩn hóa đồng bộ, từ khâu thu gom, phân loại đến công nghệ tái chế đến mức đáp ứng cho cả bao bì thực phẩm. Tuy nhiên, bức tranh thực tế của ngành tái chế Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều điểm nghẽn cố hữu.
Để giải bài toán này, ông Vượng kiến nghị Nhà nước cần sớm phát đi tín hiệu thị trường đủ mạnh thông qua việc quy định hàm lượng vật liệu tái chế bắt buộc trong bao bì tiêu thụ nội địa ở mức thỏa đáng, đồng thời nâng tỷ lệ thu gom tái chế bắt buộc.
Nhìn thẳng khoảng trống trong dự thảo sửa đổi Luật BVMT
Ở bình diện chính sách trong nước, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường đang đề xuất bãi bỏ hoàn toàn hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường. Thay vào đó, nhà sản xuất và nhà nhập khẩu bắt buộc phải trực tiếp tổ chức thu hồi, tái chế hoặc thuê các đơn vị chuyên trách, ủy quyền qua các tổ chức trung gian (PRO).
Dưới góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp tái chế, ông Hoàng Đức Vượng đánh giá việc bãi bỏ đóng góp tài chính tuy là bước tiến về tư duy quản lý nhưng lại đang tạo ra một khoảng trống chính sách đáng lo ngại nếu thiếu cơ chế điều tiết đi kèm. Khi doanh nghiệp không còn nộp tiền vào Quỹ, mức chi phí tái chế định mức (Fs) do Nhà nước xác định sẽ không còn nhiều giá trị định hướng, bởi nhà sản xuất và các cơ sở dịch vụ tái chế được quyền tự do thỏa thuận đơn giá.

Trong bối cảnh tỷ lệ tái chế bắt buộc giai đoạn đầu còn thấp, nếu để các bên hoàn toàn tự thỏa thuận mà không có mức giá sàn kiểm soát, thị trường sẽ nhanh chóng rơi vào “cuộc đua xuống đáy” (race to the bottom). Các nhà sản xuất sẽ có tâm lý tìm kiếm những bên nhận thầu với chi phí rẻ nhất để giảm thiểu gánh nặng tuân thủ, dẫn tới tình trạng ép giá các đơn vị tái chế chân chính và lực lượng thu gom. Hậu quả nhãn tiền là dòng tiền thực thi EPR bị teo tóp, nguồn lực tài chính phân bổ cho việc thu gom, phân loại và xử lý chất thải bị cắt giảm tối đa, làm triệt tiêu tính bền vững và sự thực chất của công cụ kinh tế này.
Nguy hiểm hơn, chi phí Fs nếu trở thành biến số trôi nổi thay đổi thất thường theo từng thương vụ sẽ làm mất tính dự báo của dòng tiền EPR. Các nhà đầu tư và doanh nghiệp tái chế chính quy sẽ không dám mạo hiểm bỏ vốn hàng triệu USD nhập khẩu dây chuyền công nghệ cao, các tổ chức tín dụng cũng e ngại giải ngân vì phương án tài chính thiếu ổn định.
Từ thực tiễn đó, ông Vượng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần bổ sung quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành mức phí Fs tối thiểu đối với từng nhóm sản phẩm, bao bì. Trong đó, thiết lập cơ chế ràng buộc: trường hợp nhà sản xuất hoặc PRO đã đạt tỷ lệ tái chế bắt buộc nhưng chi phí thực hiện thấp hơn mức Fs định mức. Có như vậy, phần kinh phí dôi dư bắt buộc phải được giữ lại để tái đầu tư vào hai mục tiêu cốt lõi: nâng cao tỷ lệ thu gom, tái chế thực tế và xây dựng, mở rộng mạng lưới trạm thu gom bền vững.
Chuẩn hóa đầu nguồn thu gom
Để chính sách EPR và nền kinh tế tuần hoàn vận hành hiệu quả, hạ tầng thu gom ở khâu thượng nguồn và nguồn lực tài chính dài hạn giữ vai trò quyết định. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường đề xuất cho phép thiết lập các điểm thu hồi dùng chung và đơn giản hóa thủ tục lưu giữ, vận chuyển chất thải. Đánh giá cao tính thực tiễn của đề xuất này, ông Vượng nhận định mô hình chỉ có thể thành công nếu có sự đầu tư bài bản và biết cách tích hợp lực lượng thu gom phi chính thức hiện có vào chuỗi giá trị chính thống.
Lực lượng ve chai, đồng nát và các đại lý thu mua phế liệu tư nhân từ lâu đã là xương sống thu hồi rác thải nhựa tại Việt Nam. Thay vì tốn kém hàng nghìn tỷ đồng để xây dựng mới một mạng lưới thu gom riêng biệt, việc đưa lực lượng lao động tự do này vào hệ thống EPR vừa thể hiện tính nhân văn, bảo đảm an sinh xã hội cho người yếu thế, vừa giúp tiết giảm tối đa chi phí vận hành cho toàn xã hội.
Ông Vượng kiến nghị áp dụng chính sách miễn thuế cho các cá nhân thu gom, phân loại phế liệu phục vụ tái chế. Giải pháp này không chỉ thúc đẩy dòng nguyên liệu chảy vào các nhà máy đạt chuẩn mà còn tháo gỡ nút thắt lớn nhất hiện nay về tâm lý e ngại rủi ro pháp lý và chi phí tuân thủ của người thu gom, giúp doanh nghiệp dễ dàng truy xuất và chứng minh nguồn gốc nguyên liệu đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của các thị trường xuất khẩu như EU.
Về nguồn lực tài chính, việc nâng cao năng lực cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam rất cần thiết để khơi thông điểm nghẽn nguồn vốn cho chuỗi tuần hoàn rác thải nhựa. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính tiến hành rà soát, hoàn thiện khung pháp lý hoạt động của Quỹ theo hướng mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi cho các dự án thu gom, tái chế. Trong đó, áp dụng cơ chế quản trị rủi ro hiện đại, cho phép trích lập dự phòng và chấp nhận mức độ rủi ro hợp lý theo đúng quy định nhằm tạo bệ đỡ an toàn cho việc phân bổ tín dụng; ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các dự án tái chế nhựa.
Với cơ chế mới này, nguồn lực tài chính từ Quỹ Bảo vệ môi trường sẽ được ưu tiên tập trung cho các dự án công nghệ tái chế nhựa tiên tiến, giải quyết bài toán thiếu vốn và giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dây chuyền hiện đại đáp ứng yêu cầu của EU.
Theo Nông Nghiệp Môi Trường